Tái cấu trúc chương trình khoa học và công nghệ, tập trung phát triển công nghệ chiến lược
Đề án tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026-2035 hướng tới khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, tăng liên kết từ nghiên cứu đến ứng dụng, thương mại hóa và phát triển công nghệ chiến lược.
- 11 nhóm vị trí công tác lĩnh vực khoa học, công nghệ tại chính quyền địa phương phải định kỳ chuyển đổi
- Phát triển khoa học - công nghệ gắn với tăng trưởng và năng lực cạnh tranh
- Sẵn sàng tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị, sáng kiến, giải pháp phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026-2035” được phê duyệt theo Quyết định số 1951/QĐ-TTg, giao Bộ Khoa học và Công nghệ làm đầu mối tổ chức triển khai.
Đề án đặt ra yêu cầu rà soát các chương trình quốc gia còn hiệu lực, đồng thời cập nhật những chương trình được phê duyệt mới, nhằm khắc phục tình trạng phân tán, dàn trải, hạn chế trùng lặp về mục tiêu, nội dung, sản phẩm và nguồn lực. Qua đó, các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được định hướng tổ chức thống nhất, tăng tính liên thông từ nghiên cứu đến ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả.
Theo Đề án, các chương trình thuộc phạm vi điều chỉnh được tổ chức thành sáu nhóm, gồm: phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; nghiên cứu cơ bản; trọng điểm quốc gia; đổi mới sáng tạo quốc gia; quốc gia đặc biệt; chuyển đổi số quốc gia.
Các nhóm chương trình bao quát nhiều khâu, từ phát triển nguồn nhân lực, tổ chức nghiên cứu, hạ tầng dùng chung đến tạo lập tri thức, phát triển công nghệ, chuyển giao và thương mại hóa. Trong đó, các chương trình trọng điểm tập trung giải quyết những bài toán lớn, liên ngành, liên lĩnh vực; chương trình quốc gia đặc biệt hướng tới các mục tiêu quy mô lớn, công nghệ và sản phẩm chiến lược. Nhóm chương trình chuyển đổi số thúc đẩy phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
Việc tổ chức thành sáu nhóm không làm phát sinh loại hình chương trình mới, cấp quản lý trung gian, hồ sơ hoặc thủ tục hành chính mới; đồng thời không thay đổi thẩm quyền đã được pháp luật quy định.
| Ảnh minh họa: Sở Khoa học và Công nghệ Hồ Chí Minh. |
Một định hướng quan trọng của Đề án là xác định doanh nghiệp làm trung tâm trong ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa. Nhu cầu thị trường và thực tiễn phát triển được xem là cơ sở định hướng nghiên cứu, trong khi viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học giữ vai trò nòng cốt trong tạo lập tri thức, phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và đào tạo nhân lực.
Theo đó, doanh nghiệp được khuyến khích tham gia đề xuất, đặt hàng, tài trợ, đồng tài trợ, chủ trì hoặc phối hợp thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Trong giai đoạn 2026-2030, Đề án đặt mục tiêu tối thiểu 50% nhiệm vụ đặt hàng do doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp thực hiện, với vốn đối ứng đạt tối thiểu 40% tổng kinh phí của các nhiệm vụ này. Sang giai đoạn 2031-2035, các tỷ lệ tương ứng tăng lên tối thiểu 60% và 50%.
Để nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu, các nhiệm vụ sau khi kết thúc tiếp tục được theo dõi, làm cơ sở lựa chọn hỗ trợ hoàn thiện công nghệ, ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa. Đề án cũng thúc đẩy khai thác quyền sở hữu trí tuệ, phát triển các tổ chức trung gian và nền tảng kết nối cung - cầu công nghệ.
Về mục tiêu phát triển năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, giai đoạn 2026-2030, Đề án đặt mục tiêu hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực; có tối thiểu 20 sản phẩm trọng điểm quốc gia và sản phẩm công nghệ chiến lược; phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó ít nhất 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong giai đoạn 2031-2035, mục tiêu là phát triển lũy kế ít nhất 50 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn quốc tế; hoàn thiện và thương mại hóa ở quy mô công nghiệp lũy kế tối thiểu 50 sản phẩm trọng điểm quốc gia và sản phẩm công nghệ chiến lược có sức cạnh tranh quốc tế. Đồng thời, phát triển tối thiểu 30 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó ít nhất 10 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Đối với chất lượng đầu ra nghiên cứu, tỷ lệ nhiệm vụ có kết quả được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hoặc có công bố quốc tế uy tín thuộc danh mục WoS/Scopus được đặt mục tiêu đạt tối thiểu 40% trong giai đoạn 2026-2030 và 50% trong giai đoạn 2031-2035.
Đề án đồng thời hướng tới thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo thông qua thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, phát triển sản phẩm và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ. Mục tiêu đặt ra là thành lập tối thiểu 250 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong giai đoạn 2026-2030 và tối thiểu 500 doanh nghiệp trong giai đoạn 2031-2035.
Cùng với việc tái cấu trúc danh mục chương trình, phương thức quản lý được định hướng chuyển sang dựa trên mục tiêu, kết quả, hiệu quả và tác động thực tế. Đề án nhấn mạnh việc tăng quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, đồng thời chấp nhận rủi ro có kiểm soát phù hợp với đặc thù hoạt động nghiên cứu.
Mục tiêu là 100% chương trình thuộc phạm vi Đề án được theo dõi, đánh giá trên nền tảng số quốc gia. Kết quả đánh giá sẽ là căn cứ để điều chỉnh mục tiêu, phân bổ nguồn lực và xem xét việc tiếp tục, điều chỉnh, hợp nhất hoặc kết thúc chương trình theo thẩm quyền.
Nguồn lực thực hiện Đề án được huy động từ ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp khác, khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và hợp tác quốc tế. Việc bố trí ngân sách được thực hiện theo hướng có trọng tâm, phù hợp với mục tiêu, mức độ ưu tiên và khả năng tạo tác động của từng chương trình.
Trong năm 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm rà soát, tổ chức lại các chương trình thuộc thẩm quyền và được Thủ tướng Chính phủ giao quản lý; xây dựng, vận hành nền tảng số và kiện toàn cơ chế tư vấn, điều phối chuyên môn. Bộ sẽ hướng dẫn áp dụng tiêu chí đánh giá trong quý I/2027, tổ chức đánh giá giữa kỳ Đề án vào năm 2030 và tổng kết vào năm 2035. Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương phối hợp rà soát chương trình, xác định nhu cầu, đề xuất nhiệm vụ, tổ chức ứng dụng và nhân rộng kết quả. Quyết định số 1951/QĐ-TTg không áp dụng đối với các chương trình quốc gia do Bộ Chính trị, Ban Bí thư đặt hàng.
Theo tạp chí Điện tử và Ứng dụng


















Tối thiểu 10 chữ Tiếng việt có dấu Không chứa liên kết
Gửi bình luận