Hoàn thiện pháp luật về thị trường lao động trong CMCN 4.0

Văn Ký
03/04/2020 07:15
D

Những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thị trường lao động phù hợp với yêu cầu chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp 4.0 của Việt Nam – kiến nghị giải pháp

Những vấn đề đặt ra

Thị trường lao động Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) lần thứ 4 gắn liền với những đột phá về công nghệ, Internet, kĩ thuật số, thực tế ảo,…. đã và đang phát triển với một tốc độ chóng mặt chưa từng thấy trên toàn thế giới. Các chuyên gia cho rằng cuộc CMCN này sẽ thay đổi hoàn toàn cách chúng ta sống, làm việc và sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực lao động, khi máy móc dần thay thế con người. Việt Nam cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng của nó, nhất là khi lực lượng lao động nước ta còn rất dồi dào nhưng lại thiếu năng lực và kĩ năng.

Bản chất của cách mạng công nghiệp lần thứ tư là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa qui trình, phương thức sản xuất. Kỷ nguyên mới của đầu tư, năng suất và mức sống gia tăng tất cả là nhờ vào sự sáng tạo của con người và sẽ tác động sâu sắc đối với các hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế của thế giới. Trước tiên, CMCN 4.0 sẽ tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ trong cách thức sản xuất, kết hợp giữa ứng dụng vật lý và ứng dụng kĩ thuật số tạo ra Internet vạn vật (Internet of Things - IoT), có thể kết nối thế giới thực và ảo thông qua hệ thống máy móc và mạng Internet. Nhờ có IoT, con người có thể bao quát toàn bộ quá trình sản xuất của công ti trong khi vẫn ngồi ngay tại nhà mình, giảm thiểu rất nhiều chi phí về vận chuyển, giao dịch, tối ưu hóa nghiên cứu phát triển, logistics đến dịch vụ khách hàng. Công nghệ là mảng đầu tư trở nên hấp dẫn và đầy tiềm năng nhất của các nhà đầu tư trong thời gian tới, đặc biệt là công nghệ số và Internet. Những công việc mang tính chất rập khuôn, lặp lại đơn giản sẽ dần được robot đảm nhiệm, tính tự động hóa trong các dây chuyền sản xuất được chú trọng và đẩy mạnh hơn trước.

Những công việc mang tính chất dây chuyền sẽ có xu hướng tự động hóa trong tương lai

Khi tự động hóa thay thế con người trong toàn bộ nền kinh tế, người lao động sẽ bị dư thừa và điều đó làm trầm trọng hơn khoảng cách giữa lợi nhuận so với đồng vốn và lợi nhuận so với sức lao động. Trong khi sự đổi mới công nghệ thường dẫn đến năng suất cao hơn và thịnh vượng hơn thì tốc độ thay đổi cũng sẽ tạo ra một áp lực lớn do sự dịch chuyển của nguồn lực lao động. Người lao động tại các nhà máy trong thời kỳ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ có những việc làm mới với các yêu cầu khác và trong một môi trường làm việc hay cách tổ chức không còn giống như hiện nay. Cuộc CMCN 4.0 sẽ phát triển mạnh mẽ do nhu cầu tìm kiếm phương thức sản xuất mới hiệu quả, bền vững hơn trước những thách thức như biến đổi khí hậu, già hóa dân số hay các vấn đề an ninh khác ngày càng tăng lên. Cuộc cách mạng này sẽ mang tới nhiều cơ hội phát triển và hội nhập, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức với các nước đang phát triển như Việt Nam.

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đang dần trong đà hội nhập với những nền kinh tế phát triển với việc hoàn tất nhiều hiệp định thương mại tự do qui mô lớn như CPTPP, FTA với EU, Liên minh kinh tế Á - Âu... Bởi vậy, những tiến bộ về mặt khoa học, kĩ thuật sẽ tạo ra công cụ đắc lực giúp Việt Nam tham gia hiệu quả chuỗi giá trị toàn cầu và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những công nghệ mới được tạo ra trong cuộc CMCN 4.0 cũng sẽ góp phần đặc biệt trong sản xuất cà cải thiện năng suất lao động nước nhà. Cách mạng công nghiệp 4.0 không còn là cái gì xa xôi đối với các doanh nghiệp Việt Nam nữa, rất nhiều doanh nghiệp đã sử dụng người máy vào dây chuyền sản xuất của mình. Trước kia thì chỉ có doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) như Hàn Quốc, Malaysia, Nhật Bản đầu tư robot vào chuỗi sản xuất trong ngành công nghiệp nhựa, công nghiệp lắp ráp ô tô,...nhưng đến bây giờ, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng thấy lợi và đầu tư vào.

Cần chú trọng vào việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động 

Tuy nhiên, CMCN 4.0 cũng đem lại khá nhiều bất cập và thách thức cho thị trường lao động Việt Nam. Thứ nhất, lực lượng lao động nước ta tuy dồi dào nhưng chủ yếu là lao động tay nghề thấp, dễ dàng bị thay thế bởi máy móc tại các nhà máy, xí nghiệp. Các nhân viên cũng chưa học được cách sử dụng công nghệ hiện đại, đa phần vẫn do người nước ngoài đảm nhiệm. TS. Lê Đăng Doanh - Nguyên Viện trưởng Viện Quản lí Kinh tế Trung ương (CIEM) nhận định: "Nhiều doanh nghiệp lắp dây chuyền tự động, robot hiện đại là lập tức "thải" ngay vài trăm công nhân. Tôi cho rằng, đây là một thách thức rất lớn đối với Việt Nam. Về lâu về dài đã có dự báo là đến 86% lao động của ngành may mặc và da giày của Việt Nam sẽ mất việc trong vòng 15 năm tới". Bởi khi máy móc thay thế con người thì nhiều lao động với tay nghề thấp sẽ bị mất việc. Do đó, các quốc gia đang phát triển cần quan tâm hơn nữa đến đối tượng lao động sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 bằng những chính sách tạo cơ hội việc làm cho họ.

Thứ hai, lao động Việt Nam chưa có tư duy chịu thay đổi, chấp nhận cái mới, hay làm việc theo lối mòn. Năng lực đổi mới và sáng tạo khoa học và công nghệ của lao động có trình độ cao còn nhiều yếu kém. Trong bối cảnh các công việc mang tính sáng tạo và đòi hỏi kĩ năng tốt ngày càng được chú trọng, các nhà tuyển dụng sẽ cần nguồn nhân lực chất lượng cao và thích nghi tốt với các thay đổi về cách thức sản xuất cũng như công nghệ mới. Vì vậy, nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số cần phải có kĩ năng mà máy móc không thể có như khả năng lãnh đạo, làm chủ doanh nghiệp. Máy móc sẽ thay thế những kĩ năng đơn giản và lặp đi lặp lại. Để tồn tại và phát triển trong nền công nghiệp 4.0, lực lượng lao động trong nước phải tự trau dồi và nâng cao các kĩ năng. Đồng thời các doanh nghiệp và Chính phủ cũng phải tham gia nâng cao kĩ năng cho người lao động tạo điều kiện cho họ dịch chuyển một cách tự do.

Để có thể bắt kịp với tốc độ phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, lao động Việt Nam cần trau dồi thêm kĩ năng, có tư duy học hỏi, hoàn thiện bản thân, không ngại thay đổi. Bên cạnh đó, Chính phủ, các ban ngành liên quan cũng cần có những kế hoạch phù hợp để định hướng, cải thiện chất lượng nguồn lao động trong nước, hỗ trợ người lao động học nghề, mở rộng cơ hội nghề nghiệp trong thời đại công nghệ số hiện nay.

Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động thế nào đến thị trường lao động Việt Nam

Có 95% doanh nghiệp Việt Nam dùng Internet nhưng 60% trong số đó gặp khó khăn khi ứng dụng Internet vào các hoạt động.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra nhanh chóng, rộng khắp trên mọi lĩnh vực. Sự xuất hiện, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cũng tạo ra các chuyển biến mới trên mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Các quốc gia phát triển đã tận dụng ưu thế về công nghệ và vốn để dẫn dắt những thay đổi này. Các nước đang phát triển đang đứng trước thách thức làm thế nào thích ứng với sự thay đổi mang tính bước ngoặt này.

Theo báo cáo gần đây, Diễn đàn Kinh tế thế giới đưa ra để đo lường các yếu tố, điều kiện cần thiết chuyển đổi sản xuất, đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi sản xuất của 100 quốc gia trên thế giới, Việt Nam có các yếu tố đổi mới sáng tạo công nghệ, giáo dục, chuẩn bị cho cách mạng công nghiệp 4.0 đang ở mức thấp.

Hiện có tới 90% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thuộc các lĩnh vực gia công, lắp ráp, chủ yếu sử dụng lao động là trình độ thấp. Thực tế, phần nhiều doanh nghiệp Việt đang trong giai đoạn sử dụng công nghệ 2.0, một số đang ở trong giai đoạn giữa 2.0 và 3.0.

Có 95% doanh nghiệp Việt Nam dùng Internet nhưng 60% trong số đó gặp khó khăn khi ứng dụng Internet vào các hoạt động. Bất cập hiện nay của các doanh nghiệp là không đủ khả năng số hóa, ứng dụng dữ liệu lớn vào phân tích, thiết kế, sâu chuỗi thành những chuỗi giá trị.       
 Ông Trần Chí Dũng (Văn phòng Giới sử dụng lao động thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) cho rằng: Tại Việt Nam, nhiều chính sách đã được ban hành nhằm tăng cường tiếp cận cách mạng công nghiệp 4.0.

Chương trình truyền thông đầu tiên về cách mạng 4.0 mang tên “Quốc gia số” cũng được phát sóng trên Đài truyền hình quốc gia. Khá nhiều cuốn sách có nội dung xoay quanh cách mạng công nghiệp này cũng được giới thiệu tới công chúng.

Tuy nhiên, Việt Nam hiện chưa có cơ sở để nhìn nhận cụ thể, đánh giá cách mạng công nghiệp 4.0. Tất cả những gì người dân biết về cuộc cách mạng này đều dựa trên lợi thế hạ tầng Internet, hạ tầng viễn thông của đất nước.

Cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra yêu cầu đầu tiên là đổi mới công nghệ. Theo xu thế chung, ở Việt Nam sẽ có làn sóng đổi mới công nghệ từ doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu của cách mạng 4.0. Điều này dẫn đến,nhu cầu việc làm công nghệ cao là vô cùng lớn; đồng thời nguồn cung lao động phổ thông cũng giảm mạnh.

Hòa cùng làn sóng 4.0, lực lượng lao động của Việt Nam đang hình thành các nhóm rõ rệt. Trong đó, lao động trẻ được đào tạo trong các nhà trường có thể hướng tới chuẩn mực 4.0 là thách thức lớn cho ngành giáo dục và đào tạo.

Thống nhất với quan điểm trên, Tiến sĩ Lê Anh Vinh (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam- Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho rằng đến năm 2030, hầu hết các nước trên thế giới đều phải đối mặt với tình trạng thiếu lao động, nhất là những lao động có tay nghề cao.

Người lao động trong tương lai cần kết hợp được nhiều yếu tố: Giao tiếp đa phương tiện, trách nhiệm xã hội, tính đa ngành và liên ngành, trí tuệ nhân tạo và máy móc điện tử, kết nối quốc tế, phát triển bền vững ...

Trước yêu cầu mới này, Việt Nam cần ưu tiên đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục để nâng cao khả năng cho lao động, trong đó việc đào tạo cần tập trung giúp cho trẻ yêu thích và học cách học, biết giao tiếp và cộng tác, xử lí những vấn đề phức tạp, có tư duy cởi mở.        
 Theo Tiến sĩ Phạm Quang Ngọc, chuyên gia kinh tế và thị trường lao động nhấn mạnh: Sự dịch chuyển cấu trúc lao động nhờ công nghệ đang ngày càng rõ nét. Để bắt kịp với cách mạng công nghiệp 4.0, Chính phủ cần có chính sách khuyến khích, ưu tiên các định hướng về thị trường lao động. Các doanh nghiệp cần triển khai máy móc để tự động hóa trong sản xuất; áp dụng các giải pháp công nghệ nâng cao năng xuất.

Những cơ hội dưới tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0

Sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và nhu cầu đối với kĩ năng mới trong cuộc cách mạng công nghiệp lần này cũng mở ra cơ hội cho lao động Việt Nam, đang ở trong thời kì dân số vàng với lực lượng lao động trẻ chiếm đa số có lợi thế về chuyển đổi nghề nghiệp, tiếp thu nhanh các kĩ năng mới đáp ứng yêu cầu của các nhà tuyển dụng.

Cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội. Đang xuất hiện ngày càng đông đảo tầng lớp/ giai cấp sáng tạo (Creative class) trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, thiết kế, nghệ thuật, văn hóa, giải trí, truyền thông, giáo dục-đào tạo, y tế, pháp luật. Cách mạng công nghiệp mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam đi vào những ngành, lĩnh vực tiên tiến, có năng suất lao động và hiệu quả cao. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang mở ra triển vọng cho các ngành/lĩnh vực công nghệ như tin học, điện toán, kĩ sư lập trình, chế tạo robots mà các cơ sở đào tạo và lao động Việt Nam có thể có thế mạnh.

Nhiều ngành sản xuất mới với việc làm tốt có điều kiện hình thành và phát triển. Cách mạng công nghiệp 4.0 tạo điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện của nhiều ngành sản xuất mới (do công nghệ mới tạo ra), kéo theo đó là nhu cầu về lao động ngày càng tăng lên trong những ngành này. Thêm vào đó, như các cuộc cách mạng trước đây, cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư có tiềm năng làm bùng nổ năng suất lao động, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí sản xuất, tăng chất lượng sản phẩm, tăng độ an toàn trong sản xuất, cải thiện thu nhập và chất lượng cuộc sống cho người dân. Kết quả là nhiều cơ hội việc làm tốt được tạo ra.

Phương thức sản xuất thay đổi, đặc biệt là cách thức quản lí với sự xuất hiện của thế giới “ảo”, và năng suất lao động có cơ hội được cải thiện. Những công nghệ hiện đại được tích hợp có thể kết nối thế giới thực và ảo để sản xuất, con người có thể điều khiển quy trình ngay tại nhà mình mà vẫn bao quát tất cả mọi hoạt động của nhà máy thông qua sự vượt trội về Internet. Đồng thời, phương thức sản xuất mới sẽ làm sản lượng và năng suất lao động của các ngành sản xuất nói chung và công nghiệp nói riêng được đẩy mạnh hơn, nhanh hơn bao giờ hết (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2016), đáp ứng yêu cầu về những sản phẩm tốt hơn với giá cả ngày càng rẻ hơn của người tiêu dùng.Theo các nhà nghiên cứu của ngân hàng DZ ở Đức, trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thiết bị máy móc thông minh được nối mạng sẽ tạo ra sức bật về năng xuất lao động. Cụ thể, năng suất lao động ở các nhà máy sẽ tăng bình quân 11,5% nhờ vào các yếu tố đó (Bộ Công Thương, 2016).

Góp phần làm giảm bất bình đẳng về giới trong lao động. Với việc áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin, nhiều mô hình việc làm linh hoạt, việc làm di động sẽ được áp dụng phổ biến, giúp người lao động dễ dàng cân đối việc làm với cuộc sống gia đình. Ngoài ra, nhu cầu về lao động thể lực giảm, thay vào đó là tăng cao nhu cầu về lao động sáng tạo sẽ giúp tăng cơ hội tham gia thị trường lao động của phụ nữ.

Thúc đẩy quá trình kết nối cung - cầu lao động trên thị trường. Việc ứng dụng tiến bộ công nghệ thông tin trong tuyển dụng và tìm việc làm sẽ làm cho những khó khăn, hạn chế về khoảng cách địa lý giữa người sử dụng lao động với người lao động cũng như cơ quan/tổ chức dịch vụ việc làm trở nên thu hẹp lại. Qua đó, giúp cho doanh nghiệp nhanh chóng tìm và tuyển dụng được những ứng viên phù hợp cũng như giảm thiểu các chi phí tài chính có liên quan. Đồng thời, giúp cho hoạt động của hệ thống cơ sở hạ tầng thị trường lao động trở nên đa dạng, linh hoạt và có hiệu quả hơn.

Thúc đẩy vị thế việc làm và tiền lương/thu nhập của người lao động theo hướng tích cực. Tiến bộ công nghệ, trình độ chuyên môn của người lao động, thâm niên công tác, quan hệ sẵn có giữa người lao động với các doanh nghiệp mà họ đã/đang làm việc và ý tưởng sáng tạo mới (hình thành dưới tác động của bối cảnh nền kinh tế tri thức) sẽ tạo điều kiện cho việc thay đổi quan hệ lao động từ “chủ-thợ” sang mối quan hệ “đối tác, hợp tác” giữa doanh nghiệp và người lao động dưới dạng thuê ngoài (outsourcing), nhà thầu phụ (sub-contractor) hoặc người cung ứng (spin-off[1]). Sự thay đổi này kéo theo sự thay đổi về quan hệ tiền lương/thu nhập của người lao động (chuyển từ tiền lương/tiền công sang phân chia lợi nhuận) cùng với sự cải thiện của năng suất lao động sẽ làm cho thu nhập của người lao động (đáp ứng được các yêu cầu của quá trình sản xuất mới) tăng lên nhanh chóng.

Tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trong việc tiếp cận và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Cuộc cách mạng công nghiệp sẽ khuyến khích những người lao động có tinh thần học hỏi, ham hiểu biết và sáng tạo. Sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, yêu cầu đổi mới nhanh chóng của tay nghề và kĩ năng sẽ góp phần khơi dậy và phát huy tinh thần năng động và hiếu học của con người Việt Nam. Ngoài ra, cách mạng công nghiệp 4.0 tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi phương thức và phương pháp đào tạo với sự ứng dụng mạnh mẽ của công nghệ thông tin và sự xuất hiện của những lớp học nghề ảo, chương trình ảo mô phỏng, số hóa bài giảng, giúp cho quá trình chuyển đổi từ mô hình đào tạo “những gì mình có” sang mô hình “những gì thị trường đang và sẽ cần” trở nên dễ dàng hơn.

Những thách thức

Thách thức lớn nhất đối với lĩnh vực lao động việc làm Việt Nam là cơ cấu lao động lạc hậu và trình độ lao động thấp. Những công việc theo quy trình, đòi hỏi kĩ năng bậc trung giờ đây bị cạnh trạnh bởi máy tính; những công việc đòi hỏi kĩ năng bậc cao được hưởng lợi từ máy tính; những công việc lặp đi lặp lại, đòi hỏi kĩ năng thấp lần đầu tiên bị tự động hóa. Mặt khác, các nghiên cứu của ILO và của Frey đều cho thấy quan hệ tỉ lệ nghịch rất rõ giữa một bên là trình độ và mức lương của công việc và bên kia là nguy cơ bị tự động hóa. Trong khi đó, đa số việc làm ở Việt Nam đều thuộc loại có trình độ tay nghề thấp và dễ bị tự động hóa. Thêm vào đó, ứng dụng của công nghệ tiên tiến vào trong sản xuất đòi hỏi người lao động phải có những kĩ năng công việc ở mức độ phức tạp hơn. Điều này dẫn tới việc hệ thống tiêu chuẩn phân loại lao động qua đào tạo theo các cấp trình độ cũng sẽ phải thay đổi theo hướng nâng chuẩn và tích hợp nhiều kĩ năng nghề nghiệp. Kết quả là tỉ lệ lao động qua đào tạo hiện nay của Việt Nam khi áp dụng cách phân loại mới (theo các tiêu chí mới) sẽ giảm xuống.

Nguồn lao động dồi dào, giá rẻ sẽ không còn là yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh và thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ không chỉ làm thay đổi cách người ta tạo ra sản phẩm, mà còn cả địa điểm sản xuất. Nếu trước đây các nhà máy được di dời đến các quốc gia có nguồn lao động giá rẻ thì với cuộc cách mạng này, chi phí nhân công ngày càng trở nên ít quan trọng hơn và nhiều nhà đầu tư đang lên kế hoạch rút các nhà máy lắp ráp, chế tạo quay lại nước họ. Xu hướng này không phải vì giá nhân công ở nước ngoài đang tăng lên, mà vì họ muốn về gần với khách hàng của mình, để có thể phản ứng nhanh nhạy với những thay đổi trong nhu cầu. Hơn nữa, các sản phẩm có kết cấu ngày càng phức tạp đang đòi hỏi người thiết kế và sản xuất ở cùng một nơi. Thêm vào đó, các công nghệ sử dụng nhiều vốn và kĩ năng đang phát triển nhanh chóng, có thể cho phép chuyển sản xuất trở lại các nước tiên tiến, đưa hàng hóa đến gần với thị trường cuối cùng và các trung tâm nghiên cứu và thiết kế (Yusuf, 2014). Kết quả là lợi thế của Việt Nam về chi phí lao động thấp có thể bị suy giảm đáng kể.

Mức độ rủi ro của việc làm có khả năng tăng lên. Nghiên cứu của ILO thực hiện theo phương pháp luận được Carl Frey và Michael Osborne của đại học Oxford phát triển (2013) và các dự báo xu thế công nghệ và thay đổi của các ngành công nghiệp trong 10 năm đến 2025 tại các nước ASEAN. Đối với Việt Nam, nghiên cứu sử dụng bộ số liệu điều tra lực lượng lao động năm 2013 của Tổng cục Thống kê để tính toán. Kết quả nghiên cứu về trường hợp Việt Nam cho thấy trong 10 năm tới, 70% số việc làm có rủi ro cao, 18% có rủi ro trung bình và 12% có rủi ro thấp[2]. Xét theo ngành, những ngành có rủi ro cao nhất bao gồm: Nông, lâm và thủy sản (với 83,3% số việc làm có rủi ro cao); công nghiệp chế biến, chế tạo (với 74,4% số việc làm có rủi ro cao); bán buôn, bán lẻ (với 84,1% số việc làm có rủi cao) (biểu số 1); những ngành (cấp 2) chịu tác động mạnh nhất là dệt may và da giầy. Xét theo nghề, những nghề có rủi ro cao là: Trồng trọt (khoảng 13,7 triệu việc làm); chăn nuôi (gần 3,2 triệu việc làm); đánh bắt và nuôi trồng thủy sản (0.84 triệu việc làm) bán hàng và phụ bán hàng (6,1 triệu việc làm), làm vườn (1 triệu việc làm), thợ may (770 ngàn việc làm), thợ xây (0,91 triệu việc làm). Xét theo nhóm đối tượng, lao động nữ, lao động có trình độ thấp và lao động làm những nghề có tiền lương thấp sẽ chịu tác động nhiều nhất. Lao động có trình độ học vấn càng thấp (làm những việc giản đơn) thì nguy cơ bị máy móc thay thế càng cao. Lao động có trình độ học vấn từ tiểu học trở xuống thuộc nhóm có rủi ro cao lớn hơn 10-30% so với lao động có trình độ THPT. Công việc có tiền lương càng thấp thì nguy cơ cao bị máy móc thay thế càng lớn. Lao đông nữ làm việc trong các ngành có rủi ro cao lớn hơn 2,4 lần so với lao động nam. Chỉ một số lượng không nhiều các ngành và lĩnh vực ít chịu tác động của tự động hóa như khu vực dịch vụ (giáo dục đào tạo, chăm sóc y tế, các dịch vụ xã hội khác) hoặc những nghề đòi hỏi sự khéo léo như thủ công mĩ nghệ cao cấp, những nghề đòi hỏi những kĩ năng sáng tạo như mĩ thuật, nghệ thuật.

Chuyển dịch cơ cấu lao động gặp phải thách thức “kép”, sức ép về giải quyết việc làm sẽ trở nên bức thiết hơn. Một mặt, một bộ phận lao động làm việc trong nông nghiệp tiếp tục chuyển sang làm việc trong khu vực phi nông nghiệp. Mặt khác, số lao động phi nông nghiệp trong các nhóm ngành, nghề sử dụng nhiều lao động phổ thông với đặc thù là công việc mang tính giản đơn lặp đi lặp lại có nguy cơ phải chuyển việc hoặc thậm chí mất việc. Ngoài ra cũng còn phải kể đến sức ép về việc làm cho số lao động mới hoặc quay trở lại tham gia vào thị trường lao động cũng không hề nhỏ. Giải quyết vấn đề này không tốt sẽ tạo ra thêm một thách thức nữa đó là sự gia tăng tỉ lệ thất nghiệp hoặc thiếu việc làm ở Việt Nam trong thời gian tới. Một nghiên cứu của Đại học Oxford ước tính rằng có tới 47% công việc ngày hôm nay sẽ có tỉ lệ 75% tự động trong vòng 20 năm tới, chủ yếu là các công việc có thu nhập trung bình và văn phòng thường ngày mà không đòi hỏi trình độ kĩ thuật. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Anh (The Bank of England) năm 2015, 15 triệu việc làm ở Anh có nguy cơ biến mất, nhất là những việc hành chính, văn thư và sản xuất. Ngoài ra, theo nghiên cứu của OECD, trong tương lai trung bình có 9% việc làm hiện nay có nguy cơ bị thay thế hoàn toàn bởi tự động hóa; khoảng 47% các công việc hiện tại ở Mỹ có thể sẽ biến mất vì tự động hóa; 30% việc làm sẽ trải qua quá trình trang bị lại, bao gồm các kĩ năng mới (Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam, 2016).

Mức độ phân đoạn thị trường lao động (labor market segmentation) có xu hướng ngày càng gia tăng. Có thể thấy là tri thức, chứ không phải là vốn, sẽ là yếu tố quan trọng của sản xuất trong tương lai. Điều này sẽ làm phát sinh một thị trường việc làm ngày càng tách biệt thành các mảng "kĩ năng thấp/lương thấp" và "kĩ năng cao/lương cao". Từ đó, chênh lệch về tiền lương và thu nhập giữa hai nhóm lao động này sẽ ngày càng tăng. Điều đó dẫn tới sự cần thiết phải thay đổi/điều chỉnh về mức tiền lương tối thiểu cũng như khung thang bảng lương hiện đang được sử dụng giữa các ngành/nghề, khu vực/vùng cũng như cấp trình độ.

Quan hệ lao động có khả năng diễn biến phức tạp, khó kiểm soát. Việc ứng dụng tiến bộ công nghệ và tự động hóa vào trong sản xuất và xu hướng quay trở lại quốc gia bản địa của những công ti/doanh nghiệp nước ngoài dẫn đến việc lao động mất việc hàng loạt. Điều này rất dễ làm cho những mâu thuẫn về mối quan hệ giữa quyền lợi và trách nhiệm của người lao động và doanh nghiệp trở nên bùng nổ trên diện rộng. Thêm vào đó, mặc dù hệ thống các qui định, chính sách pháp luật liên quan đến giải quyết tranh chấp/xung đột lao động về cơ bản đã khá đầy đủ, tuy nhiên, thực tế cho đến nay, việc áp dụng những qui định này vào thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam vẫn còn bị coi nhẹ. Điều này cũng sẽ là một tác nhân làm cho vấn đề quan hệ lao động trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 trở nên phức tạp hơn.

Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra những thách thức đối với công tác tổ chức phát triển thị trường lao động. Theo đó, mức độ biến động về qui mô, phạm vi và loại việc làm hoặc hình thức làm việc có nhu cầu cao (hoặc có nguy cơ suy giảm, thậm chí biến mất) cũng như kĩ năng nghề nghiệp mà thị trường đòi hỏi sẽ diễn ra liên tục. Điều này đòi hỏi công tác thu thập, nắm bắt và cung cấp thông tin về diễn biến thị trường lao động (cũng như hoạt động dự báo cảnh báo) cần phải được thực hiện thường xuyên, nhanh chóng và kịp thời. Công tác dự báo đòi hỏi phải có độ chính xác cao cả trong phạm vi ngắn/trung/dài hạn. Trên cơ sở đó, các hành vi thị trường của người lao động, người sử dụng lao động cũng như quyết sách tác động/can thiệp của Nhà nướcsẽ có hiệu quả cao hơn.

Quan niệm về nghề nghiệp, ổn định nghề nghiệp (dưới tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0) sẽ dần dần thay đổi. Các doanh nghiệp sẽ rút ngắn thời hạn yêu cầu kĩ năng đối với công việc. Trước đây, mất hàng thập kỷ để xây dựng các hệ thống đào tạo và các thể chế thị trường lao động cần thiết cho việc phát triển các nhóm kĩ năng qui mô lớn, nay trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, điều này sẽ không còn là một lựa chọn nữa. Những thay đổi nhanh chóng của công nghệ đã làm cho các kĩ năng trở nên lỗi thời chỉ trong vòng vài năm. Ngoài các kĩ năng cứng, các chủ doanh nghiệp ngày càng quan tâm hơn đến các kĩ năng và năng lực xử lí đồng thời nhiều công việc trong thực tế. Theo WEF, đến năm 2020, hơn 1/3 các kĩ năng cơ bản mà các ngành nghề hiện nay đang cần sẽ bị thay thế bằng các kĩ năng hoàn toàn khác.

Thách thức đối với hệ thống đào tạo và dạy nghề về năng lực đào tạo và mức độ phản ứng nhanh đối với các tín hiệu thị trường. Sự thay đổi về công nghệ dẫn đến tăng nhanh nhu cầu sử dụng lao động tay nghề cao, trong khi khả năng đáp ứng của hệ thống đào tạo và dạy nghề còn rất hạn chế. Ngoài ra, sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và nhu cầu đối với các kĩ năng mới đòi hỏi hệ thống đào tạo và dạy nghề cần có phản ứng linh hoạt, cập nhật liên tục nhu cầu kĩ năng của các doanh nghiệp.

Sự kết nối giữa các trường đại học và các doanh nghiệp hiện nay còn yếu, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo cũng như việc hỗ trợ sinh viên thực tập để có kiến thức thực tế để qua đó dễ dàng xin việc sau khi tốt nghiệp. Kết quả là kể cả trong các ngành tăng trưởng nhanh, sinh viên khi ra trường thiếu nhiều kĩ năng mà doanh nghiệp cần (Nguyễn Thắng và cộng sự, 2016).

Thay đổi lớn về cung - cầu lao động trên thế giới

Sau ba cuộc Cách mạng công nghiệp lớn trong lịch sử, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 giúp cho máy tính, phần cứng, phần mềm cũng như mạng toàn cầu phát triển mạnh mẽ, tạo tiền đề cho sự ra đời một cuộc cách mạng công nghiệp toàn diện và làm biến đổi mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội toàn cầu.

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 dựa trên 3 lĩnh vực chính là: Kĩ thuật số: Bao gồm dữ liệu lớn (Big Data), vạn vật kết nối Internet (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI); Công nghệ sinh học: Ứng dụng trong nông nghiệp, thủy sản, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, hóa học và vật liệu; Lĩnh vực vật lý: Robot thế hệ mới, xe tự lái, các vật liệu mới (graphene, skyrmions…), công nghệ nano...

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 dù mới bắt đầu nhưng nó đang phá vỡ cấu trúc của hầu hết các ngành công nghiệp ở mọi quốc gia, báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lí và quản trị. Theo dự báo của các chuyên gia, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là nền tảng để kinh tế chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình dựa vào tài nguyên, lao động chi phí thấp sang kinh tế tri thức.

Các ngành công nghiệp sáng tạo tăng trưởng mạnh và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế so với các ngành sản xuất và dịch vụ truyền thống.

Trong nền công nghiệp 4.0, bên cạnh việc tìm ra những nguồn/dạng năng lượng mới và công nghệ để khai thác và sử dụng chúng, còn có các công nghệ hướng tới việc sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực hiện có, được gọi là công nghệ nhúng, công nghệ phái sinh. Theo nhận định của các chuyên gia, Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ làm thay đổi cơ bản khái niệm đổi mới công nghệ, trang thiết bị trong các dây chuyền sản xuất.

Cụ thể là, các thiết bị sử dụng trong sản xuất sẽ được tăng tính tùy biến, giúp nhà sản xuất chỉ nâng cấp phần mềm để bổ sung các tính năng mới cho hệ thống thông minh, chứ không cần nâng cấp phần cứng hay thay thế các chi tiết, bộ phận trong dây chuyền như trước đây mà vẫn đảm bảo đầy đủ các yêu cầu mới của khách hàng cho sản phẩm đầu ra.

Đặc biệt, nền công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra những thay đổi lớn về cung - cầu lao động trên thế giới. Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới diễn ra vào năm 2016 tại Thụy Sĩ, các nhà kinh tế và khoa học đã cảnh báo, trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, thị trường lao động sẽ bị thách thức nghiêm trọng giữa cung và cầu lao động cũng như cơ cấu lao động. Nền kinh tế với trình độ tự động hóa cao và có tính sáng tạo, đòi hỏi người lao động phải thích ứng nhanh với sự thay đổi của sản xuất nếu không sẽ bị dư thừa, bị thất nghiệp.

Trong một số lĩnh vực, theo dự báo, với sự xuất hiện của Robot, số lượng nhân viên cần thiết sẽ chỉ còn 1/10 so với hiện nay. Như vậy, 9/10 nhân lực còn lại sẽ phải chuyển nghề hoặc thất nghiệp. Một dự báo của Anh cho thấy, thị trường lao động của Mỹ và Anh sẽ có khoảng 95 triệu lao động truyền thống bị mất việc trong vòng 10-20 năm tới, tương đương 50% lực lượng lao động tại hai nước này và ở các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam chắc cũng sẽ có tình trạng tương tự.

Tại khu vực ASEAN, việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) giúp thị trường lao động trong nội khối sôi động hơn, thúc đẩy tạo việc làm cho từng quốc gia thành viên. Tuy nhiên, do trình độ phát triển không đồng đều, nên hiện nay, lao động có tay nghề và kĩ năng cao trong khối ASEAN chủ yếu di chuyển vào thị trường Singapore, Malaysia và Thái Lan.

Còn lại, hầu hết các lao động di chuyển trong phạm vi ASEAN là lao động trình độ kĩ năng thấp hoặc không có kĩ năng. Khảo sát của tổ chức Lao động Quốc tế tại 10 quốc gia ASEAN cho thấy, doanh nghiệp trong khối ASEAN hiện đang rất lo ngại về tình hình thiếu hụt lực lượng lao động có tay nghề và kĩ năng trước sự ra đời của AEC.

Một số vấn đề đặt ra đối với lao động Việt Nam

Thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thu hẹp khoảng cách phát triển trong quá trình hội nhập quốc tế. Đặc biệt, nguồn lao động trẻ dồi dào là lợi thế lớn của Việt Nam, bởi đây là lực lượng có khả năng hấp thụ tốt nhất về khoa học, công nghệ. Tuy nhiên, trong nền công nghiệp 4.0 với sự mở rộng ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin, điều khiển, tự động hóa, thì Việt Nam đứng trước nhiều vấn đề về chất lượng nguồn nhân lực. Cụ thể:

Một là, trình độ chuyên môn kĩ thuật của lao động còn thấp: Hiện nay, ở nước ta đang tồn tại hai cách tính khác nhau về lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật. Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật, bao gồm từ đào tạo dưới 1 năm và từ trình độ sơ cấp trở lên. Trong khi đó, theo cách tính của Tổng cục Thống kê, lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật là lao động có chuyên môn và có chứng chỉ trở lên.

Với cách tính của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, năm 2015 cả nước có 28,05 triệu người có trình độ chuyên môn kĩ thuật, chiếm 51,64% tổng lực lượng lao động. Trong khi theo cách tính của Tổng cục Thống kê, số người có trình độ chuyên môn kĩ thuật chỉ có 10,56 triệu người, chiếm tỉ lệ thấp trong tổng lực lượng lao động (20,78%).

Bên cạnh đó, theo Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2015-2016, Việt Nam được xếp hạng chung là 56, nhưng các chỉ số cấu phần liên quan đến đổi mới sáng tạo lại thấp hơn nhiều. Cụ thể: Năng lực hấp thụ công nghệ xếp hạng 121; Mức độ phức tạp của quy trình sản xuất: 101; Chất lượng của các tổ chức nghiên cứu khoa học: 95; Giáo dục và đào tạo ở cấp sau phổ thông: 95.

Hai là, năng suất lao động thấp: Theo Báo cáo Năng suất lao động Việt Nam năm 2015, năng suất lao động của Việt Nam theo giá hiện hành đạt 3.660 USD, chỉ bằng 4,4% của Singapore; 17,4% của Malaysia; 35,2% của Thái Lan; 48,5% của Phillippines và 48,8% của Indonesia. Nói cách khác, năm 2015, một người Singapore có năng suất làm việc bằng gần 23 người Việt Nam, một người Malaysia bằng gần 06 người Việt Nam, một người Thái Lan bằng gần 03 người Việt Nam và một người Philippines hay Indonesia cũng vẫn bằng hơn 02 người Việt Nam.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong giai đoạn 2005-2015, mặc dù lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp có giảm, nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất. Cụ thể, nông nghiệp giảm từ 55,09% năm 2005, xuống 45,19% năm 2015; lần lượt công nghiệp tăng từ 17,59 lên 21,78%; dịch vụ tăng từ 27,32% lên 33,03%. Cơ cấu này phản ánh cấu trúc “nông nghiệp” của nền kinh tế Việt Nam.

Ba là, tay nghề và các kĩ năng mềm khác còn yếu: Theo số liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tính đến quý IV/2016, cả nước có 1.110.000 người trong độ tuổi lao động thất nghiệp, trong đó có 471.000 người có chuyên môn kĩ thuật (chiếm 42,43%). Riêng tại 64 trung tâm dịch vụ việc làm do ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đã quản lí tổ chức được 336 phiên giao dịch việc làm với 780.000 lượt người được tư vấn, giới thiệu việc làm, nhưng mới có 242.000 lượt người nhận được việc làm.

Một phần nguyên nhân là do cơ cấu cung – cầu của thị trường lao động bất hợp lý nhưng một phần không nhỏ cũng là do lao động chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đưa ra bảng xếp hạng chỉ số năng suất sáng tạo năm 2014 của lao động ở 24 nước châu Á, trong đó Việt Nam xếp thứ 16/24, thậm chí thấp hơn cả Lào và Indonesia (Mạc Văn Tiến, 2017).

Những quan điểm, định hướng

Ngày 04 tháng 05 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 16/CT-TTg về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng lần thứ 4, Chỉ thị nêu rõ: Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với xu hướng phát triển dựa trên nền tảng tích hợp cao độ của hệ thống kết nối số hóa - vật lý - sinh học với sự đột phá của Internet vạn vật và Trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất của thế giới. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với đặc điểm là tận dụng một cách triệt để sức mạnh lan tỏa của số hóa và công nghệ thông tin. Làn sóng công nghệ mới này đang diễn ra với tốc độ khác nhau tại các quốc gia trên thế giới, nhưng đang tạo ra tác động mạnh mẽ, ngày một gia tăng tới mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, dẫn đến việc thay đổi phương thức và lực lượng sản xuất của xã hội.

Việt Nam là quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 mở ra nhiều cơ hội trong việc nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh trong chuỗi sản phẩm; tạo ra sự thay đổi lớn về hình thái kinh doanh dịch vụ; tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; giảm đáng kể chi phí giao dịch, vận chuyển; tạo cơ hội đầu tư hấp dẫn và đầy tiềm năng trong lĩnh vực công nghệ số và Internet đồng thời cũng là cơ hội lớn cho sản xuất công nghiệp với trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến.

Tuy nhiên, nếu không bắt kịp nhịp độ phát triển của thế giới và khu vực, Việt Nam sẽ phải đối mặt những thách thức, tác động tiêu cực như: Sự tụt hậu về công nghệ, suy giảm sản xuất, kinh doanh; dư thừa lao động có kĩ năng và trình độ thấp gây phá vỡ thị trường lao động truyền thống, ảnh hưởng tới tình hình kinh tế xã hội đất nước; mất an toàn, an ninh thông tin, xâm phạm bản quyền, thiếu hụt nguồn nhân lực trình độ cao. Mặt khác có khả năng xuất hiện làn sóng đẩy công nghệ lạc hậu từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển và chậm phát triển.

Do những thay đổi mang tính cách mạng về khoa học và công nghệ dẫn tới thay đổi mạnh mẽ về cơ cấu, mô hình kinh tế, hệ thống quản lí nhà nước, xã hội cũng như phương thức hoạt động của các doanh nghiệp. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 cũng đặt ra những thách thức đối với một số ngành, lĩnh vực cụ thể như: Yêu cầu về đổi mới công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin; đẩy mạnh khoa học phân tích và quản lí và xử lí dữ liệu lớn tạo ra tri thức mới, hỗ trợ việc đưa ra quyết định và tạo lợi thế cạnh tranh. Yêu cầu về đổi mới mô hình quản lí, sản xuất, tối ưu hóa mô hình kinh doanh, thiết lập chuỗi cung ứng và hậu cần thông minh trong mạng lưới chuỗi giá trị toàn cầu và mô hình thuế quan mới. Yêu cầu về hệ thống quản lí sở hữu trí tuệ mới, tốt hơn trong thời đại số. Yêu cầu cao hơn về bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng.

Quan điểm hoàn thiện pháp luật về phát triển thị trường lao động

- Thứ nhất, thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển việc làm và thị trường lao động, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp với yêu cầu của Cách mạng công nghiệp 4.0.

- Thứ hai, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động, tăng cường bảo vệ nhóm yếu thế trong quan hệ lao động, bảo đảm quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân trong lĩnh vực lao động, việc làm BHXH, BHYT, an sinh xã hội; kiến tạo khung pháp lí lao động hỗ trợ doanh nghiệp thuận lợi trong quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động để doanh nghiệp phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.

- Thứ ba, xây dựng khung pháp lí nhằm cải cách bộ máy quản lí Nhà nướcvề lao động, thị trường lao động và quan hệ lao động; bảo đảm và thúc đẩy bình đẳng giới, không phân biệt đối xử về quyền, nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm giữa nam giới và nữ giới trong lao động; hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp và giảm thiểu các tranh chấp lao động.

- Thứ tư, nội luật hóa các tiêu chuẩn lao động quốc tế, đặc biệt là các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản theo Tuyên bố năm 1998 của ILO phù hợp với trình độ, mức độ phát triển kinh tế - xã hội và thể chế chính trị của Việt Nam, phục vụ quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016 của Hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII.

Định hướng hoàn thiện pháp luật về thị trường lao động

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang ở giai đoạn đầu, giai đoạn chiến lược bản lề cho các nước đang phát triển tiến đến để theo kịp với xu hướng thế giới. Tuy nhiên những yếu tố mà các nước đang phát triển như Việt Nam coi là ưu thế như lực lượng lao động thủ công trẻ, chi phí thấp sẽ không còn ưu thế mạnh nữa, thậm chí bị đe dọa nghiêm trọng

Theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) có đến 86% lao động cho các ngành dệt may và giày dép của Việt Nam có nguy cơ cao mất việc làm dưới tác động của những đột phá về công nghệ do cuộc CMCN 4.0. Nguy cơ này có thể chuyển thành con số thiệt hại không hề nhỏ khi các ngành như dệt may, giày dép đã tạo ra số lượng lớn việc làm cho lao động trong nước.

Trong quá trình tiến tới thời điểm “dân số vàng”, khoảng 20 năm qua, tổng số lao động Việt Nam đã tăng thêm khoảng 19 triệu người, từ mức 35 triệu (năm 1996) lên 54 triệu (năm 2016). Điều này là lợi thế khi nhiều nước phát triển đang suy giảm nguồn lao động, nhưng lại là điểm yếu khi máy móc làm thay con người.
 Bên cạnh đó, Việt Nam đang dồn nỗ lực để thoát khỏi “bẫy” thu nhập trung bình, chứ chưa có nhiều nguồn lực để đối phó như các nước đã phát triển. Điều đó cũng có nghĩa, lợi thế nguồn nhân lực lớn hiện nay rất có thể lại trở thành lực cản của quá trình phát triển trong tương lai, nếu tác động tiêu cực của CMCN 4.0 không được chủ động hóa giải.

Trong khi đó, đối với ngành Công nghệ thông tin tại Việt Nam, ước tính mỗi năm, nhu cầu tuyển dụng vẫn tăng đều đặn gần 50%, trong khi thực tế với 500.000 ứng viên công nghệ thông tin ra trường chỉ có 8% đáp ứng được nhu cầu này. Thực tế này cho thấy, chất lượng nguồn lao động có kĩ thuật hiện đang trở thành đòi hỏi bức thiết.
 Để chủ động thích ứng và hóa giải thách thức, việc xác định lại mô hình đào tạo nghề cần được cấp thiết tiến hành. Song song với việc nâng cao chất lượng lao động, cần chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình đào tạo “những gì thị trường cần” và hướng tới chỉ đào tạo “những gì thị trường sẽ cần”.         
 Với mô hình mới này, việc gắn kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp là yêu cầu được đặt ra; Đồng thời, đẩy mạnh việc hình thành các cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp để chia sẻ các nguồn lực chung: Cơ sở vật chất, tài chính, nhân lực, quan trọng hơn là rút ngắn thời gian chuyển giao từ kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn cuộc sống.  
 Theo nhiều chuyên gia, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc CMCN 4.0 đang là thách thức hiện hữu đối với lao động Việt Nam. Kỷ nguyên công nghệ số mang đến những cơ hội đột phá về năng suất, phát triển nhân lực công nghệ cao. Thế nhưng chính điều này cũng đã khiến cho hàng chục nghìn lao động đang đứng trước nguy cơ mất việc làm dù chưa đến tuổi nghỉ hưu. Nếu không sớm đưa ra các giải pháp thì Việt Nam không chỉ trở nên tụt hậu mà còn phải đối mặt với gánh nặng chính sách đảm bảo an sinh xã hội cho hàng chục nghìn lao động trước nguy cơ thất nghiệp.
 Thách thức từ cuộc CMCN 4.0 về vấn đề lao động cũng được đề cập nhiều tại cuộc họp trong khuôn khổ Hội nghị quan chức cao cấp APEC lần thứ 2. Theo đó, các nền kinh tế APEC không chỉ riêng Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ dư thừa lao động ở một số ngành nghề. Do vậy liên kết để tạo ra môi trường cho sự luân chuyển và trao đổi lao động đang là giải pháp mà các nền kinh tế APEC hướng tới. Kinh nghiệm của các Chính phủ trong nền kinh tế APEC là tạo ra môi trường làm sao để người lao động có thể tiếp cận được, có thể sống được, hòa nhập được khi mà thế giới trải qua cuộc CMCN 4.0    
 Cùng với những nỗ lực như trên, một điều cực kỳ quan trọng là Việt Nam không thể không quan tâm phát triển ngành tự động hóa, đồng thời đầu tư cho các nhóm nghiên cứu sâu về các lĩnh vực kĩ thuật số, công nghệ thông tin, năng lượng và vật liệu mới, công nghệ sinh học... Xét đến cùng, vấn đề quan trọng là phải đào tạo, phát huy và sử dụng được nhân tài, thu hút được nhiều chuyên gia có trình độ cao tham gia làm việc, sáng tạo.

Giải pháp

Hoàn thiện pháp luật về thị trường lao động

Để đạt được các mục tiêu sửa đổi Bộ Luật Lao động tập trung giải quyết 05 nhóm chính sách lớn, xuyên suốt toàn bộ nội dung Bộ luật, bao gồm: 

1. Bảo vệ các quyền, nghĩa vụ cơ bản của người lao động theo quy định của Hiến pháp năm 2013 trong lĩnh vực lao động, quan hệ lao động và thị trường lao động;

2. Bảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng về lao động của người sử dụng lao động; thiết lập hành lang pháp lí tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong tuyển dụng, quản lí và sử dụng lao động;

3. Hoàn thiện thể chế thị trường lao động; tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lí Nhà nướcvề lao động; nâng cao vai trò, vị thế của Công đoàn trong quan hệ lao động; bảo đảm và thúc đẩy bình đẳng giới;

4. Nâng cao tính khả thi của Bộ Luật Lao động và bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật;

5. Thiết lập hành lang pháp lí về lao động quốc gia tương thích với các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản theo Tuyên bố năm 1998 của ILO và đáp ứng yêu cầu hội nhập thương mại quốc tế;

Mỗi nhóm chính sách này sẽ bao gồm các chính sách cụ thể, có chính sách kế thừa, cụ thể hóa quy định hiện hành và có các chính sách mới được đề xuất.

Để chủ động nắm bắt cơ hội, đưa ra các giải pháp thiết thực tận dụng tối đa các lợi thế, đồng thời giảm thiểu những tác động tiêu cực của cuộc CMCN lần thứ 4 đối với Việt Nam, Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan Trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong thời gian từ nay đến năm 2020 tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp, nhiệm vụ sau:

1. Tập trung thúc đẩy phát triển, tạo sự bứt phá thực sự về hạ tầng, ứng dụng và nhân lực công nghệ thông tin - truyền thông. Phát triển hạ tầng kết nối số và bảo đảm an toàn, an ninh mạng tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp dễ dàng, bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội phát triển nội dung số.

2. Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện các Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06 tháng 02 năm 2017, số35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 và số 36a/NQ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ nhằm cải thiện môi trường cạnh tranh kinh doanh để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhanh chóng hấp thụ và phát triển được các công nghệ sản xuất mới. Các bộ, ngành cần khẩn trương triển khai xây dựng chính phủ điện tử; tiếp tục chủ động rà soát, bãi bỏ các điều kiện kinh doanh không còn phù hợp; sửa đổi các quy định quản lí chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo hướng đơn giản hóa và hiện đại hóa thủ tục hành chính.

3. Rà soát lại các chiến lược, chương trình hành động, đề xuất xây dựng kế hoạch và các nhiệm vụ trọng tâm để triển khai phù hợp với xu thế phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Xây dựng chiến lược chuyển đổi số, nền quản trị thông minh, ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ số, nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh, đô thị thông minh. Rà soát, lựa chọn phát triển sản phẩm chủ lực, sản phẩm cạnh tranh chiến lược của quốc gia bám sát các công nghệ sản xuất mới, tích hợp những công nghệ mới để tập trung đầu tư phát triển.

4. Tập trung thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia theo hướng xây dựng các cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp để phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo như: Có cơ chế tài chính thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của doanh nghiệp với tôn chỉ doanh nghiệp là trung tâm; đổi mới cơ chế đầu tư, tài trợ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; có chính sách để phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; kết nối cộng đồng khoa học và công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng trong nước.

5. Thay đổi mạnh mẽ các chính sách, nội dung, phương pháp giáo dục và dạy nghề nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công nghệ sản xuất mới, trong đó cần tập trung vào thúc đẩy đào tạo về khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học (STEM), ngoại ngữ, tin học trong chương trình giáo dục phổ thông; đẩy mạnh tự chủ đại học, dạy nghề; thí điểm quy định về đào tạo nghề, đào tạo đại học đối với một số ngành đặc thù. Biến thách thức dân số cùng giá trị dân số vàng thành lợi thế trong hội nhập và phân công lao động quốc tế.

6. Nâng cao nhận thức của lãnh đạo các cấp, các ngành, các địa phương, doanh nghiệp và toàn xã hội về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Tăng cường hội nhập quốc tế và thông tin, truyền thông tạo hiểu biết và nhận thức đúng về bản chất, đặc trưng, các cơ hội và thách thức của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 để có cách tiếp cận, giải pháp phù hợp, hiệu quả.

Cụ thể nhiệm vụ đối với phát triển thị trường lao động:

1. Đổi mới đào tạo, dạy nghề trong hệ thống các trường đào tạo nghề theo hướng phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi nghề nghiệp có kĩ năng phù hợp, có thể tiếp thu, làm chủ và khai thác vận hành hiệu quả những tiến bộ công nghệ của Cách mạng công nghiệp thứ 4.

2. Nghiên cứu, đề xuất các chính sách, giải pháp khắc phục, giảm thiểu tác động, ảnh hưởng của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tới cơ cấu thị trường lao động, an sinh xã hội.

Giải pháp đồng bộ xây dựng nguồn nhân lực

Để giải quyết những vấn đề tồn tại, khó khăn của lao động Việt Nam, cần triển khai các giải pháp sau:

Đối với Nhà nước

- Cần hoàn thiện các cơ chế chính sách nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, có cơ chế phối hợp, liên kết giữa cơ sở đào tạo, nhất là các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp cùng tham gia đào tạo nghề nghiệp. Hoàn thiện các cơ chế chính sách về phát triển đội ngũ nhà giáo. Trong đó, đặc biệt chú trọng tới đổi mới việc tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng cho nhà giáo.

Đổi mới cơ cấu hệ thống giáo dục - đào tạo trên cơ sở khung trình độ quốc gia, tiêu chuẩn kĩ năng nghề nghiệp, tiêu chuẩn kĩ năng mềm phù hợp với bối cảnh đất nước và xu thế các nước trong khu vực và trên thế giới.

- Cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục nghề nghiệp. Hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin trong toàn bộ hệ thống phục vụ công tác quản lí và điều hành lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Đẩy mạnh xây dựng thư viện điện tử, hệ thống đào tạo trực tuyến; khuyến khích các cơ sở giáo dục Nhà nướcxây dựng phòng học đa phương tiện, phòng chuyên môn hóa; hệ thống thiết bị ảo mô phỏng, thiết bị thực tế ảo…

- Chú trọng đến hoạt động dự báo nhu cầu nhân lực theo cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo. Trên cơ sở đó, Nhà nướccó những điều chỉnh kịp thời về đào tạo, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội theo từng giai đoạn.

- Tăng cường các hoạt động hợp tác đa phương, song phương trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, như: Nghiên cứu khoa học, trao đổi học thuật; Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lí; Quản trị nhà trường; Tạo điều kiện thuận lợi về môi trường pháp lí và xã hội để các nhà đầu tư nước ngoài mở cơ sở giáo dục chất lượng cao tại Việt Nam.

Về phía các cơ sở đào tạo

- Cần đổi mới tổ chức đào tạo theo mô đun, tín chỉ và phát triển đào tạo trực tuyến sẽ là hướng đào tạo chủ yếu. Chương trình đào tạo phải được thiết kế linh hoạt, một mặt đáp ứng chuẩn đầu ra của nghề; mặt khác, tạo sự liên thông giữa các trình độ trong một nghề và giữa các nghề.

- Thay đổi phương pháp đào tạo trên cơ sở lấy người học làm trung tâm và sự ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng và truyền đạt bài giảng. Cùng với đó là sự đổi mới hình thức và phương pháp thi, kiểm tra trong giáo dục - đào tạo theo hướng đáp ứng năng lực làm việc và tính sáng tạo của người học.

- Chú trọng hơn nữa phát triển ngành tự động hóa, đồng thời đầu tư cho các nhóm nghiên cứu sâu về các lĩnh vực kĩ thuật số, công nghệ thông tin, năng lượng và vật liệu mới, công nghệ sinh học...

- Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu công nghệ, phương tiện dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lí đào tạo. Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, gắn nghiên cứu với các hoạt động chuyển giao tại cơ sở. Chú trọng các nghiên cứu mô phỏng, nghiên cứu tương tác giữa người và máy.

Đối với người lao động

- Phải xác định cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là xu thế tất yếu, nó đang diễn ra và không gì có thể cưỡng lại được. Chúng ta không có quyền lựa chọn mà bắt buộc phải thích nghi bằng cách chủ động học tập, rèn luyện, đi trước đón đầu các kĩ năng cần thiết cho một nền kinh tế thông minh và công nghiệp hóa.

- Mỗi cá nhân người lao động phải nỗ lực tự vượt qua chính mình, trước hết là tư duy, tập quán, lề thói tiểu nông, sau đó là tự học tập, tự trang bị kiến thức, kĩ năng để đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

Bùi Sỹ Lợi

 Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội

Bình luận

Tối thiểu 10 chữ Tiếng việt có dấu Không chứa liên kết

Gửi bình luận

Tin cùng chuyên mục

Chuyển đổi số: Những việc cần làm ngay một cách thực chất!

Chuyển đổi số: Những việc cần làm ngay một cách thực chất!

Hòa thượng Thích Tánh Nhiếp: Chư Tăng đi khất thực và nhận cúng dường là hoàn toàn hợp pháp

Hòa thượng Thích Tánh Nhiếp: Chư Tăng đi khất thực và nhận cúng dường là hoàn toàn hợp pháp

AI "lấn sân" hội họa, nghệ thuật AI có phải là nghệ thuật đích thực?

AI "lấn sân" hội họa, nghệ thuật AI có phải là nghệ thuật đích thực?

5G và các thách thức trong thiết kế hệ thống IoT công nghiệp

5G và các thách thức trong thiết kế hệ thống IoT công nghiệp

Cần giải pháp “gỡ khó” về nguyên liệu cho ngành… điện tử

Cần giải pháp “gỡ khó” về nguyên liệu cho ngành… điện tử

Chuyển đổi số để Báo chí cách mạng Việt Nam bắt nhịp với thời đại công nghệ

Chuyển đổi số để Báo chí cách mạng Việt Nam bắt nhịp với thời đại công nghệ

Một số khuyến nghị về định hướng chiến lược chuyển đổi số báo chí quốc gia

Một số khuyến nghị về định hướng chiến lược chuyển đổi số báo chí quốc gia

Báo chí số - Nhìn lại 30 năm nghiên cứu và triển vọng phía trước

Báo chí số - Nhìn lại 30 năm nghiên cứu và triển vọng phía trước

Sử dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động báo chí: Thực tiễn và các vấn đề pháp lý

Sử dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động báo chí: Thực tiễn và các vấn đề pháp lý

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng trong tình hình hiện nay

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng trong tình hình hiện nay

Hướng tới những đột phá tiếp theo về công nghệ vô tuyến

Hướng tới những đột phá tiếp theo về công nghệ vô tuyến

AR thời gian thực có thể thay đổi tương lai của cuộc gọi video

AR thời gian thực có thể thay đổi tương lai của cuộc gọi video

Tin mới cập nhật

HEINEKEN khánh thành nhà máy bia lớn nhất Đông Nam Á

HEINEKEN khánh thành nhà máy bia lớn nhất Đông Nam Á

Sẵn Sàng Giao Ngay Range Rover Evoque và Range Rover Velar

Sẵn Sàng Giao Ngay Range Rover Evoque và Range Rover Velar

Cùng Timo biến “giấc mơ Mỹ” thành hiện thực

Cùng Timo biến “giấc mơ Mỹ” thành hiện thực

Giữ vững an ninh lưới điện truyền tải khu vực miền Trung trước bão Noru

Giữ vững an ninh lưới điện truyền tải khu vực miền Trung trước bão Noru

Đâu là lỗ hổng bảo mật làm gia tăng tấn công tại khu vực Đông Nam Á

Đâu là lỗ hổng bảo mật làm gia tăng tấn công tại khu vực Đông Nam Á

Dạo một vòng triển lãm âm thanh cao cấp AVSHOW 2022

Dạo một vòng triển lãm âm thanh cao cấp AVSHOW 2022

Amazfit ra mắt đồng hồ thông minh nhỏ gọn GTS 4 Mini

Amazfit ra mắt đồng hồ thông minh nhỏ gọn GTS 4 Mini

Những người chiến thắng cuộc thi #TeamUnstoppable2022 tại Việt Nam

Những người chiến thắng cuộc thi #TeamUnstoppable2022 tại Việt Nam

“Điểm mặt” những tên miền mạo danh ngân hàng được dùng để lừa người dân

“Điểm mặt” những tên miền mạo danh ngân hàng được dùng để lừa người dân

Chạy bộ trên nền tảng ảo, lan tỏa giá trị tích cực cho xã hội

Chạy bộ trên nền tảng ảo, lan tỏa giá trị tích cực cho xã hội

WASH-UP - Ứng dụng đặt lịch rửa xe công nghệ

WASH-UP - Ứng dụng đặt lịch rửa xe công nghệ

Ứng dụng AI, MoMo muốn tối ưu hóa trải nghiệm của người dùng

Ứng dụng AI, MoMo muốn tối ưu hóa trải nghiệm của người dùng

Tin đọc nhiều

Hòa thượng Thích Tánh Nhiếp: Chư Tăng đi khất thực và nhận cúng dường là hoàn toàn hợp pháp

Hòa thượng Thích Tánh Nhiếp: Chư Tăng đi khất thực và nhận cúng dường là hoàn toàn hợp pháp

5G và các thách thức trong thiết kế hệ thống IoT công nghiệp

5G và các thách thức trong thiết kế hệ thống IoT công nghiệp

Bàn về tầm nhìn và các trụ cột của công nghệ thông tin di động 6G

Bàn về tầm nhìn và các trụ cột của công nghệ thông tin di động 6G

Thị trường bất động sản hậu Covid-19 sẽ sáng sủa hơn?

Thị trường bất động sản hậu Covid-19 sẽ sáng sủa hơn?

Hoàn thiện thể chế và các điều kiện nền tảng để phát triển nền kinh tế số tại Việt Nam

Hoàn thiện thể chế và các điều kiện nền tảng để phát triển nền kinh tế số tại Việt Nam

Mô hình của Việt Nam được đánh giá là chuẩn mực trong cách tiếp cận dịch Covid-19

Mô hình của Việt Nam được đánh giá là chuẩn mực trong cách tiếp cận dịch Covid-19

Cơ hội cho Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Cơ hội cho Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Kỹ thuật kết nối trên nền tảng tích hợp chia sẻ dữ liệu quốc gia

Kỹ thuật kết nối trên nền tảng tích hợp chia sẻ dữ liệu quốc gia

EVFTA mở ra cơ hội để Việt Nam vượt qua gánh nặng COVID-19

EVFTA mở ra cơ hội để Việt Nam vượt qua gánh nặng COVID-19

Nâng cao chất lượng hoạt động xuất bản trong thời đại công nghiệp 4.0

Nâng cao chất lượng hoạt động xuất bản trong thời đại công nghiệp 4.0

Video xem nhiều

Giới thiệu chương trình bình chọn “Xe của năm 2022"

Giới thiệu chương trình bình chọn “Xe của năm 2022"

Mazda2 2021 Collection ra mắt Thái Lan: Bản nâng cấp vượt trội về công nghệ

Mazda2 2021 Collection ra mắt Thái Lan: Bản nâng cấp vượt trội về công nghệ

Clip: Khuyến cáo đối với người lao động, người làm việc, người bán hàng tại khu dịch vụ trong dịch Covid-19

Clip: Khuyến cáo đối với người lao động, người làm việc, người bán hàng tại khu dịch vụ trong dịch Covid-19

Clip: Những lưu ý khi sử dụng phương tiện công cộng trong đại dịch Covid-19

Clip: Những lưu ý khi sử dụng phương tiện công cộng trong đại dịch Covid-19

Cỗ xe lai phản lực tăng tốc từ 0 - 1010 km/h trong 50 giây tham vọng phá kỷ lục thế giới

Cỗ xe lai phản lực tăng tốc từ 0 - 1010 km/h trong 50 giây tham vọng phá kỷ lục thế giới

“Rắn tiên tri” dự đoán đội tuyển Việt Nam thắng Thái Lan

“Rắn tiên tri” dự đoán đội tuyển Việt Nam thắng Thái Lan

Bắc Sơn mây hát

Bắc Sơn mây hát

Làm thế nào để nâng cao tương tác giữa loa và phòng nghe hiệu quả

Làm thế nào để nâng cao tương tác giữa loa và phòng nghe hiệu quả

Trực tiếp: Apple ra mắt Iphone 11 tại Cupertino, California, Mỹ

Trực tiếp: Apple ra mắt Iphone 11 tại Cupertino, California, Mỹ

Gia sư Trí Tuệ Nhân Tạo, giúp bạn thành thạo tiếng Anh!

Gia sư Trí Tuệ Nhân Tạo, giúp bạn thành thạo tiếng Anh!

Những gì bạn muốn biết về 5G

Những gì bạn muốn biết về 5G

5G thay đổi tương lai của bạn như thế nào?

5G thay đổi tương lai của bạn như thế nào?

Bàn về tầm nhìn và các trụ cột của công nghệ thông tin di động 6G
04/03/2022
Chip xử lý A15 Bionic của Apple có gì mới
15/09/2021
Sex Education mùa 3 được Netflix công chiếu vào 17/9
14/09/2021
iPhone 13 không thay đổi nhiều về ngoại hình, camera được nâng cấp mạnh
13/09/2021
Cách xem trực tiếp sự kiện ra mắt iPhone 13 và Apple Watch 7
10/09/2021
VNEID của Bộ Công an khác các ứng dụng đang được vận hành?
10/09/2021
'Cái tôi' thời 4.0 và tính hai mặt của mạng xã hội
04/09/2021
'Muôn màu' cảm xúc của trẻ trong ngày khai giảng online
24/08/2021
Chủ tịch Chu Ngọc Anh giải toả 'ách tắc' về Giấy đi đường cho người dân Thủ đô
10/08/2021
Hàng loạt Macbook M1 tự dưng vỡ màn hình, Apple có đồng ý bảo hành?
02/08/2021
6 bộ phim hay nhất để xem trên VieON
29/01/2021
Bắc Ninh: Không ký kết triển khai dự án Owifi 5G với CSE Singapore
27/06/2020
Bị World Bank cấm dự thầu 7 năm, công ty Sao Bắc Đẩu thừa nhận sai sót
27/06/2020
Wefinex - Mô hình hoạt động đa cấp "đội lốt" đầu tài chính trên mạng internet
10/06/2020
Khai trừ MISA khỏi Câu lạc bộ Chữ ký số và Giao dịch điện tử Việt Nam
27/05/2020
Chuyển đổi số - Nên hiểu như thế nào cho đúng
25/05/2020
Chống thất thu thuế là thách thức lớn đối với nền kinh tế số
29/04/2020
Cách chuyển tập tin sang máy tính mới
10/11/2019
VNPT, MobiFone, VTC sẽ hoàn thành cổ phần hóa trước năm 2021
20/08/2019
5G thay đổi tương lai của bạn như thế nào?
26/07/2019
Nhận diện hành vi lừa đảo trên không gian mạng
25/07/2019
Truyền hình OTT - Hướng đi mới của các “nhà Đài”
24/07/2019
Tiến sĩ Trần Văn Mạnh (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia) đánh giá, việc phát triển sản xuất rau ứng dụng công nghệ cao nói riêng và sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nói chung là hướng đi đúng, tạo động lực mới cho ngành nông nghiệp Việt Nam.
Kinh nghiệm quá hữu ích. Cần phổ biến ngay cho các cháu nhỏ.
Chúc mừng ngày thành lập ngành Bưu điện Việt Nam
Bài viết rất hay và ý nghĩa về eKGIS và hội thảo CNTT. Cảm ơn tác giả
Tình yêu , cống hiến ,nổ lực đã vượt qua những trở ngại tưởng chừng như không bao giờ qua được. Chúc Mừng Con người Đẹp , chúng tôi luôn tự hào !
Giờ mình mới biết - Chúc mừng chúc mừng con người Đẹp
Một con người dùng cả một cuộc đời cho tình yêu thiên nhiên . Ông đã đóng góp cống hiến cho nghành thực vật học nước nhà bảo tồn phát triển những loài lan quí hiếm . Xin chúc ngài có một sinh nhật ngài ấm áp hạnh phúc bên người thân . Mong xã hội và trên toàn thế giới có nhiều người tâm huyết như ông . Xin chúc cho tình cảm hữu nghị giữa hai đất nước TL & VN luôn bền chặt và thắm thiết . VN luôn yêu quí các bạn !
Con này chắc không bằng con Netgear Orbi RBS40 đâu mình đã dùng thử và đã lắp đặt nhiều nhà , cơ quan, resort , văn phòng , showroom . Con netgear Orbi có app kiểm tra từ xa và loại đối tượng thông qua tắt ip đối tượng đó
Nhu cầu tuyển dụng tăng gấp đột biến 4 lần trong một thời gian ngắn điều đó phản ánh tỉ lệ thất nghiệp trong những tháng đầu năm là 3/4 do ảnh hưởng của đại dịch covid-19 đây là một điều đáng buồn, rồi các cử nhân, kỹ sư sẽ đi đâu về đâu trong giai đoạn bất ổn này. Để cân bằng lại có thể mất một thời gian dài.